Từ ngữ trong kho báu hát ru: “Bớ chiếc ghe sau… ”

Từ ngữ trong kho báu hát ru: “Bớ chiếc ghe sau... ”

Đã lâu. Lâu lắm. Có thể bốn năm mươi năm rồi, tôi không còn nghe tiếng “bớ” trong đời thường, kể cả những làng quê heo hút.

“Bớ làng xóm ơi! Bớ bà con ơi!”. Đó là tiếng kêu xưa khi ai đó gặp tình trạng nguy cập, nguy hiểm, chết chóc đến nơi hết sức cần người cứu giúp khẩn cấp. Như thể tín hiệu SOS phát lên từ chiếc tàu biển khơi đang gặp nạn. Ta nên gảii thích từ ngữ trong kho báu hát ru: “Bớ chiếc ghe sau… ” như thế nào là đúng??

Mấy mươi năm rồi tiếng kêu thảng thốt, rùng rợn của dì Hai Lịch vẫn còn đồng vọng trong nội tâm tôi: “Bớ làng xóm, làng xóm ơi! Ai biết thuốc rắn đến cứu em tôi… thằng Ất… Em tôi… bị rắn chàm oạp nước cắn… sắp chết rồi”. Lúc ấy chừng nửa đêm, trời tối như hũ nút. Xóm làng vắng lặng như cõi xa xăm không gió, không mây, không ánh sáng, không bóng dáng con người, vắng lặng đến nỗi nghe rõ từng chiếc lá rơi ngoài cánh rừng chồi. Trên bãi đá dài giữa xóm, tiếng dì Hai Lịch lại rờn rợn kêu lên:

Vậy là tiếng bớ hồi xưa dùng kêu gọi người cứu giúp trong tình huống khốn nguy: nhà cháy, đắm thuyền, có cướp đến nhà. Tiếng bớ còn dùng gọi đứa con chơi xa về gấp: “Bớ Tâm… bớ Tèo”. Đứa con nghe mẹ dùng tiếng bớ gọi mình, hiểu ngay ý mẹ, dù đang say chơi đến mấy cũng tức tốc cắm đầu, cắm cổ chạy về. Trong một bài hát ru có chữ bớ lại gây cho tôi một âm hưởng khác, giá trị như một thẩm âm, mặc dù  trong tình huống ấy vẫn mang ý nghĩa của từ kêu cứu.

Từ ngữ trong kho báu hát ru: “Bớ chiếc ghe sau... ” - Ảnh 1

“Bớ chiếc ghe sau… ”

Rõ ràng là không biết được người đang đi sau mình là ai, trẻ, già, trai hay gái. Nếu biết, không khi nào người gọi gọi tiếng trống không, xách mé nhứ vậy. Bởi vì, tập quán phía Nam luôn luôn gọi người bằng thứ: anh Hai, chị Ba, bác Bảy, chú Sáu, dì Năm… Với người chưa quen, không biết thứ mấy, khi giao tiếp người ta kính trọng dùng thứ hai để gọi. Cái thứ dùng gọi người con cả trong gia đình Anh Hai, chị Hai, bác Hai, ba Hai… Trong tình huống “ngộ bất cập” này không thể gọi được ông hay ba, anh haỵ chị… phía sau, đành phải gọi: “Chiếc ghe sau”, lại dùng tiếng hớ mở đầu câu gọi: “Bớ chiếc ghe sau!” và hối thúc: “Chèo mau tôi đợi”.

Không phải là tiếng gọi bình thường, mà là tiếng réo gọi thảng thốt, thất thanh. Bởi vì người đi ghe trước đã chợt thấy trên trời quần tụ mây đen từng cụm, từng cụm như những chiếc nấm không lồ. Đấy là con “giông khói đen” đang đến, sẽ gây ra gió giật sóng cồn dữ dội. Nguy cơ bão tố đến nơi. Cơn “giông khói đen”khủng khiếp mang theo tai họa sẽ đến không lâu. Người đi sông, đi biển chợt thấy những nấm mây đen sì bao phủ bầu trời, tức khắc phải chạy nhanh tìm nơi ẩn núp. Tai hoạ sắp đến nơi rồi, không còn thì giờ toan tính gì hơn, người đi ghe trước hoảng sợ, nhưng còn đợi chiếc ghe sau, rối rít réo to, phải dùng tiếng bớ kêu lên:

Bớ chiếc ghe sau

Chèo mau tôi đợi

Kẻo giông khói đen

Bờ bụi tối tăm

Réo gọi chiếc ghe sau mau đến với mình không phải tiếp cứu mình, mà réo họ chèo mau để mình tiếp giúp họ. Một vẻ dẹp nhân văn, nhân bản đột hiện hết sức bất ngờ. Tâm linh con người nhiều khi cũng lạ. Từ bớ trong bài hát ru xưa và tiếng bớ thắt thanh của dì Hai Lịch tôi nghe hồi còn bé, cứ như một âm thanh, một ám dụ thanh trong tiềm thức tuổi thơ tôi cho đến gần hết đời vẫn như một ám ảnh. Lạ thay, khi nghe từ bớ trong hát ru, ấn tượng hãi hùng không còn nữa, chỉ còn lại cảm giác an bình, tin cậy và lòng ưu ái, đùm bọc của con người:

Từ ngữ trong kho báu hát ru: “Bớ chiếc ghe sau... ” - Ảnh 2

Bớ chiếc ghe sau

Chèo mau tôi đợi

Kẻo giông khói đen

Bờ bụi tối tăm

Tiếng bớ cất lên trong hoàn cảnh này nó không cứng khô khiếp sợ, nghe sao tha thiết, dịu dàng: “Bớ chiếc ghe sau. Chèo mau tôi đợi…”. Một sự chờ đợi không phải vì mình. Một bài hát ru bốn câu, mười sáu từ mà như một vở kịch nhỏ, rất thơ và rất kịch. Nhân vật không hiện hình, chỉ có tiếng kêu: (tiếng vang trong kịch). “Bớ chiếc ghe sau. Chèo mau tôi đợi… ”. Đợi với mục đích gì? Vì saọ phải đợi? Nút kịch thắt lại ở đây, rồi mở ra từ từ: “Kẻo giông khói đen…”. (Hé ra một chút ấn tượng). Để khi bật hết nút kịch (Dénouement) tạo ra ấn tượng dữ dội hơn: “Bờ bụi tối tăm”.

Câu ba trong bài hát này có nơi nảy ra dị bản: “Kẻo khúc sông này…”. Dị bản này rất ít khả năng thuyết phục. Không nói rõ ra, ai cũng có thể̉ hiểu rằng “chiếc ghe sau” ít nhất cũng đã ngược xuôi dòng nước, qua nhiều khúc sông, nhiều bờ bụi. “Bờ bụi tối tăm” nào lạ lẫm gì với người đã từng trải sông hồ. Cái đáng sợ là ở chỗ khác, không chỉ là “bờ bụi tối tăm”, nếu không có dấu hiệu “giông khói đen” đang cuồn cuộn đến. Bởi vậy người trong nghe đi trước mới lo sợ cho người đi sau (có thể cả cho mình) rồi cất tiếng kêu rối rít “bớ chiếc ghe sau…”

Thuở nhỏ, ở làng, tôi thường nghe người lớn nói: “hoạn nạn tương cứu”. Phải chẳng lẽ đời cao cả ấy đã ăn sâu trong tiềm thức con người đồng quê lam lũ, ngày ngày phải đối mặt, vật vã với thiên nhiên khắc nghiệt, chứa chan ý nghĩa của thành ngữ “tối lửa tắt đèn”, “chia cơm xẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”, “nương tựa lẫn nhau”… Nhà nghiên cứu văn hoá Huỳnh Ngọc Trảng, cảm nhận thật sâu sắc về đặc tính hát ru. Trong bài “Hát ru trong cuộc sống & văn hoá ngày nay” ông viết: “Hát ru là thể loại dân ca đặc biệt vì nó có những đặc tính và chức năng độc đáo mà các thể loại dân ca khác không có.

Hát ru (còn gọi là hát ru con, hát đưa em. hát đưa con, hát ru em…) (…) cụ thể là đưa/ ru đứa bé năm trong nôi, trong võng… vừa giao đãi tình cảm (thân ái và thiêng liêng), vừa mang tính giáo huấn/ giáo dục, lại vừa biểu hiện nghệ thuật có tính tự tình, giãi bày tâm sự, nỗi lòng ưu tư của người hát. Tính đa chức năng của hát ru biểu hiện ở phạm vi phản ánh của nó là vô giới hạn, bao gồm những đề tài về thiên nhiên, xã hội và những ý tưởng riêng tư về đủ mọi thứ, đủ mọi việc đã, đang và sẽ diễn ra”.

Riêng tôi, bài hát ru “Bớ chiếc ghe sau…” (tạm gọi) không chỉ là để ru mà còn là để dạy, không chỉ dành cho đứa bé trong nôi, trong võng, không chỉ là tâm sự, nỗi ưu tư của người mẹ, mà nó vượt qua không gian và thời gian, bay rất ra, truyền thụ từ thế hệ này, sang thế hệ khác nung đúc nhân cách, nhân bản người đời. Gợi lên tình cảm lớn lao: nhân tình, nhân ái… không chỉ cho một đời người mà nhiều thế hệ con người. Quí hoá biết bao một bài hát lời lẽ bình thường, giản dị mà nội dung chứa chan tình cảm lớn, ý tưởng cao xa. “Hát ru mà mắt đi thì quả là điều bất hạnh”. Xin mượn lời Huỳnh Ngọc Trảng để kết bài này.

Nguồn tổng hợp
 

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*