Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi của bí ẩn “suối xương” trong lòng núi

Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi của bí ẩn “suối xương” trong lòng núi

Đứng trong Thần Quang động, các cô hướng dẫn viên du lịch kể lại truyền thuyết của người xưa rằng, hệ thống hang là 9 tầng địa ngục.

Nhắc đến chùa Thầy với ngọn Sài Sơn thơ mộng trời lên giữa vùng đồng bằng phẳng lặng, chắc hẳn nhiều người đều cảm thấy thân thuộc, chẳng còn điệu gì là bí mật. Những người ít nhất đã một lần đến chùa Thầy, đã vào hang Cắc Cớ, không thể nghĩ rằng, trong lòng ngọn Sài Sơn không cao lắm lại có rất nhiều bí ẩn chưa được khám phá. Bí ẩn kỳ lạ nhất là “suối xương” với 3.600 bộ hài cốt được cho là của nghĩa quân Lữ Gia, đã hy sinh một cách bi tráng từ 2.100 năm trước. “Suối xương” đầy huyễn hoặc này sẽ chìm vào quên lãng nếu không có cuộc thám hiểm của mấy người nông dân sống quanh chân núi.

Chùa Thầy nằm trên núi Sài (xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Tây). Theo thuyết phong thủy thì núi Sài là con rồng lẻ đàn (Quái Long), sân chùa là lưỡi rồng, thủy đình là hòn ngọc, còn xung quanh thập lục kỳ sơn là quy phượng chầu về. Theo các nhà phong thủy, giữa một vùng đồng ruộng bằng phẳng ven sông Đáy, bỗng đột khởi 16 tòa đá vôi (hiện chỉ còn 10, vì 6 ngọn núi đã bị đánh mìn nghiền làm xi măng), mà cao nhất, đẹp nhất, linh ứng nhất vẫn  là ngọn Sài Sơn. Thiền sư Từ Đạo Hạnh, ngươi đứng đầu phái Mật Tông đã chọn Sài Sơn làm nơi trụ trì cho đến ngày ngài hóa. Cũng từ đó, ngọn Sài Sơn với bao huyền tích được tô vẽ.

Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi của bí ẩn “suối xương” trong lòng núi - Ảnh 1

Nơi ánh sáng chiếu xuống lòng hang là cổng trời, nơi có con quỷ án ngữ, tuyển các linh hồn để cho lên cõi Niết bàn đầu thai làm kiếp khác, hoặc đày xuống âm phủ cho chó ngao, vạc dầu. Trên đường xuống âm phủ, linh hồn sẽ đi qua tầng thứ ba, nơi có con suối ngầm trong lòng núi, mà theo một số người từng khám phá, có rất nhiều xương cốt. Nhờ chị Tuyết, ngưòi có thâm niên 10 năm bán nhang, nến, đèn pin trong hang Cắc Cớ, tôi tìm được một thanh niên địa phương tên Tuấn.

Thường xuyên dẫn khách thám hiểm hang động trong núi Sài, nên Tuấn luôn chuẩn bị sẵn sàng những thứ thiết yếu như đèn pin, dây thừng, thực phẩm, nước uống… Chỉ cần khách yêu cầu là lên đường. Vượt qua cửa hang Cắc Cớ nhỏ hẹp, tôi om là đến một khoảng không gian rộng lớn. Một luồng sáng trắng chiếu thẳng từ trên đỉnh núi xuống bị bóng tối hút co lại. Ngươi dân trong vùng gọi đây là giếng trời, nơi cửa ngõ giữa thiên đường và địa ngục. Phía cuối động, bàn thơ bằng đá với tấm biển gắn dòng chữ “Bàn thơ nghĩa quân Lữ Gia” nằm im lìm trong bóng đêm, khói hương lạnh lẽo.

Vài đồng tiền lẻ rơi vãi quanh bát hương. Những gói bim bim được các nam thanh nữ tú để ở góc bàn thơ như một sự chia sẻ với người đã khuất. Phía sau bàn thờ, nơi góc hang, có một chiếc bể xây sâu vào vách núi. Trên góc bể cũng được dán một tấm biển đề “Bể hài cốt”, cảm giác lạnh lẽo xâm chiếm tâm hồn những người đứng trước chiếc bể hài cốt khổng lồ này. Bể được xây bởi những phiến đá khổng lồ, để hở một ô nhỏ, vừa đủ để một ngươi thò đầu  vào xem. Bài vị gắn chìm trong thành bể khắc dòng chữ: “Bảo Đại thập tam niên”. Phía bên phải và trái bể có những cột nhũ đá khổng lồ, sắc lên ánh vàng khi chiếu đèn pin vào.

Các hướng dẫn viên du lịch thuyết trình rằng, đó là những vị thần canh giấc cho nghĩa quân. Sau khi khấn vái các nghĩa binh, tôi dùng đèn pin rọi vào miệng bể, rồi thò đầu vào nhìn. Những khúc xương trắng còn nguyên vẹn, đủ cả xương tay, xương chân, xương sườn, xương sọ… chồng đống, lộn xộn. Cứ nhìn cái cảnh ấy, có thể hình dung, cách đây hàng trăm năm, người ta xây cái bể này để gom xương khắp hang động rồi trút vào đó, mà không cần phải xắp xếp thành hình gì cả. Trên thành bể xây bằng đá này có tấm bia với dòng chữ bằng tiếng Hán: “Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi”.

Qua đó, có thể hiểu, bể xương này được xây dựng để ghi dấu nỗi hận bị xâm lược, mất nước. Cũng theo tâm bia đó, bể được xây sâu xuống lòng núi 15m. Như vậy, với chiều dài chừng 3m, chiều ngang 2m, sâu 15m, “bể hận” này phải chứa hàng ngàn bộ hài cốt mới đầy đến như vậy. Một con số thật khủng khiếp. Cứ theo sự dẫn dắt của những câu chuyện trong truyền thuyết mà người dân quanh chân núi Sài kể thì chỗ bể xương này mới chỉ là nơi giao hòa giữa địa ngục và thiêng đàng. “9 tầng địa ngục” còn sâu dưới lòng núi mà bắt đầu là cửa hang nhỏ xíu, chỉ vừa một người chui, sâu hun hút, dốc đứng phía sau bể xương khổng lồ.

Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi của bí ẩn “suối xương” trong lòng núi - Ảnh 2

Chúng tôi buộc thừng rồi đu ngươi thả xuống một ngách nhỏ ngay phía bên phải bể xương. Bóng đêm tuyệt đối lạnh lẽo bao trùm. Tôi cứ bám chân Tuấn mà bò. Thỉnh thoảng lại rờ thấy một mê cung. Chỉ cần tuột tay khỏi chân Tuấn là có thể lạc trong động, chết đói trong một ngóc ngách nào đó. Ý nghĩ đó khiến tôi lạnh người. Nếu Tuấn lẩn mất ở ngách hang nào đó, chắc tôi chẳng còn biết đường ra. Đến một cửa động có đường  kính chừng 1m, Tuấn dừng lại và bảo, cách đây 4 năm, ông Phạm Văn Long và 2 người nữa, đều ở xóm Chợ, đem lưới vào chăng ở miệng hang này để bắt dơi.

Khi mọi người đang gỡ hàng chục con dơi dính lưới, bỗng có một cái đuốc, đúng hình cái đuốc, sáng rực lửa bay lơ lửng ngay trước mặt mọi người. Cả mấy ngươi đều sợ hãi, tròn mắt nhìn, không nói được lời nào. Cái đuốc lơ lửng chừng vài chục giây rồi tự dưng rơi mất hút xuống lòng hang. Mọi người bỏ lại lưới, chạy khỏi hang và từ đấy không dám bước chân vào hang bắt dơi nữa. Lần mò chừng 2 tiếng đồng hồ trong hang động, hết đi lại bò, một khoảng rộng mênh mông hiện ra. Luồng ánh sáng từ chiếc đèn pin Tuấn mang theo không xé bổi bóng đêm chiếu đến mái hang.

Ánh sáng từ chiếc đèn bị bóng đêm đen đặc hút mất, mặt đèn nóng ran. Tuấn phải liên tục tắt, bật để khỏi cháy bóng. Tuấn bảo: “Anh cứ nhắm mắt chạy nhảy lung tung cũng được”. Quả thực, mặt hang khá bằng phẳng, tôi cứ nhắm mắt dạo bước một cách thoải mái trong cảnh có mắt cũng như không. Tuy nhiên, tôi thấy khá tức ngực vì thiếu không khí. Người dân địa phương gọi hang này là Bãi Ba Sào, vì đơn giản là nó rộng bằng khoảng 3 sào Bắc Bộ. Giữa hang có “chợ lợn”, là bãi đá mà hòn nào cũng có hình thù một con lợn.

Tuấn nhặt một hòn đá và ném mạnh lên mái hang. Sau khi tiếng “cạch” dội âm vào các vách đá, hàng loạt tiếng đập loạn xạ từ vách động dội xuống. Những con dơi hoảng hốt va vào người tôi “bịch bịch”. Một lát sau, tiếng động ngớt dần, chúng tôi tiến vào sát vách động. Chiếc giày leo núi ngập dưới lớp phân dơi dày đặc. Trên vách đá, hàng vạn con dơi treo lơ lửng, ken đặc. Giống dơi ở trong động này chủ yếu là dơi ngựa khá nhỏ, không lớn như dơi  ở chùa Dơi (Mahatup) ở Sóc Trăng.

Bể hận ngàn năm mãi khắc ghi của bí ẩn “suối xương” trong lòng núi - Ảnh 3

Lần mò một lúc thì Tuấn tìm thấy hai cột nhũ đá bên vách động. Chiếu đèn pin vào, một cột lóe lên màu vàng, còn một cột sáng lên màu bạc. Hai cột nhũ đá này giống hình cây, có cành, lá, nên những người chứng kiến gọi là “cây vàng, cây bạc”. Tuấn chỉ cho tôi một khung xương người đã hóa thạch, trong tư thế ngồi, gắn chặt vào vách đá. Trên cổ hình người hóa thạch có một xâu tiền gắn chặt vào đá, vòng xuống đến ngực. Không hiểu người này đeo xâu tiền trên cổ để giữ hay nó có ý nghĩa như một chiếc vòng trang sức. Những đồng tiền này kết chặt vào đá, nên phải dùng vật nhọn mới nạy ra được.

Tuấn bảo, một số người đã cạy tiền ra đem cho các nhà khoa học để họ nghiên cứu xem loại tiền này thuộc đời nào, từ thế kỷ bao nhiêu, song chưa thấy có ai trả lời. Đang lò dò tìm kiếm trong vách đá xem có tìm được thứ gì hóa thạch không, tôi liền đá phải một bộ xương, khiến sọ người lăn lông lốc. Cảm giác ớn lạnh chạy khắp cơ thể. Tôi bàn với Tuấn tìm cách mang bộ xương này lên bể xương, nhưng Tuấn bảo cứ để “cụ” an nghỉ ở đó. Bởi nếu di chuyển lên trên, gặp không khí đậm đặc, hoặc ánh sáng tự nhiên, bộ xương hơn 2 ngàn năm tuổi này sẽ vụn ra như mùn.

Cách đây 4 năm, một đám thanh niên đã chuyển các cụ lên bể xương, nhưng khi mang các cụ đến nơi, đầu lâu cứ nổ lốp bóp, vỡ vụn hết, rất thương tâm. Lần mò từng bước quanh Bãi Ba Sào, rồi Tuấn cũng tìm thấy một ngách động nhỏ. Chúng tôi bật cả 3 chiếc đèn pin chiếu xuống, song tuyệt nhiên không thấy đáy. Ném hòn đá xuống thì nghe rõ tiếng lốc cốc vọng lên. Tuấn bảo, muốn đi tiếp thì phải chuẩn bị thang dây rất dài và có nhiều người cùng đi để hỗ trợ nhau. Đi qua “giếng” này sẽ đến một khoảng rộng nữa gọi là Thung Lũng Tình Yêu.

Tên đó là do một số lão nông đặt khi thám hiểm. Nó đẹp ra sao, lãng mạn thế nào Tuấn cũng không biết, vì dưới đó cũng tối om như mực. Từ Thung Lũng Tình Yêu, phải đi qua nhiều ngóc ngách hiểm trở, mất cả ngày trời nữa mới đến được “suối xương”. Để xuống được “suối xương” phải chấp nhận nguy hiểm, thậm chí… mất mạng, vì rất có thể bị lạc, bị ngã hoặc bị ngộp thở vì thiếu không khí. Hiện tại, ở Sài Sơn không ai có khả năng dẫn đường xuống tận “suối xương”. Những người từng xuống “suối xương”, người đã mất, người bệnh tật, người bị nạn, thậm chí, người từng xuống đó cũng không muốn nhắc lại chuyện đi ấy nữa, vì những ám ảnh kỳ lạ.

Nguồn tổng hợp
 

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*